Cả năm sàn ghi nhận cho bạn 600 triệu doanh thu bán hàng. Mỗi đơn nó trừ 1,5% thuế trước khi đẩy tiền về ví, cộng lại là 9 triệu đồng đã nộp vào ngân sách mang tên bạn. Nhưng 600 triệu là dưới ngưỡng, nên đáng lẽ bạn không phải nộp đồng nào.
⚠️ Trước khi đọc tiếp, chốt lại con số của chính bạn. Ngưỡng 01 tỷ đồng một năm tính trên doanh thu gộp của tất cả các kênh cộng lại: Shopee cộng TikTok Shop cộng bán ngoài sàn. Không phải từng sàn một ngưỡng, và không phải số tiền thực về ví sau khi sàn trừ phí. Đo nhầm theo hướng dễ chịu thì cả bài này không áp cho bạn. Cách đo đúng ở bài ngưỡng 1 tỷ tính trên doanh thu gộp hay tiền về tài khoản.
Bị sàn trừ thuế thừa thì lấy lại thế nào? Câu trả lời có một khúc ngoặt mà hầu hết bài viết bỏ qua: với đúng tình huống này, bạn không phải nộp hồ sơ xin hoàn.
Điều 12 có ba cửa vào, và cửa thứ ba rộng nhất
Điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP tên đầy đủ là Xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa. Nó có năm khoản, ba khoản đầu là ba cửa vào khác nhau:
· Khoản 1. Bạn bị sàn, hoặc một tổ chức khác, khấu trừ và nộp thuế thay cho các giao dịch phát sinh trong năm, mà doanh thu thực tế cả năm từ 01 tỷ trở xuống. · Khoản 2. Bạn tự nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân trong năm, rồi cuối năm doanh thu thực tế vẫn dưới ngưỡng. Nộp nhầm vì tưởng mình phải nộp cũng tính. · Khoản 3. Số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt bạn đã nộp hoặc bị tổ chức khác khấu trừ, nộp thay lớn hơn số thực phải nộp.
Khoản 3 rộng hơn hai khoản kia hẳn một bậc, vì nó không gắn với ngưỡng nào. Doanh thu bạn 3 tỷ, vượt ngưỡng từ lâu, nhưng sàn xếp một khoản doanh thu vào nhóm ngành có tỷ lệ cao hơn nhóm đúng của nó thì phần chênh vẫn là tiền nộp thừa.
⛔ Đọc kỹ chữ phần chênh. Khoản 3 trả lại đúng khoảng cách giữa số bị trừ và số phải nộp, không trả lại toàn bộ số sàn đã trừ. Vượt ngưỡng mà bị trừ đúng nhóm thì không có gì để đòi.
Mốc 01 tỷ ở khoản 1 và khoản 2 vốn là 500 triệu trong bản gốc; Nghị định 141/2026 nâng lên và hồi tố về 01/01/2026. Khoản 3 không có con số nào nên không đụng tới.
Bù trừ và hoàn trả là hai đường, một cái máy làm sẵn
Điều 15 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 định nghĩa tiền nộp thừa đúng như tên gọi: số đã nộp lớn hơn số phải nộp. Khoản 2 cho bạn hai đường, và hai đường không ngang nhau.
Bù trừ là lấy số nộp thừa trừ vào số phải nộp. Luật viết việc bù trừ trong cùng hoặc giữa các loại thuế do Hệ thống thông tin quản lý thuế thực hiện tự động, hoặc theo đề nghị của người nộp thuế. Một phần chuyện này có thể đã xảy ra mà bạn chưa làm gì.
Hoàn trả là tiền quay về tài khoản. Đường này có một điều kiện đứng chắn: luật cho hoàn trả "khi người nộp thuế không còn tiền thuế nợ". Đang nợ thuế ở một sắc khác thì số nộp thừa đi bù trừ trước, phần còn lại mới bàn tới chuyện hoàn.
Bị sàn trừ thuế thừa thì lấy lại thế nào: bằng tờ khai, không bằng lá đơn
Đây là chỗ bài này lệch hẳn khỏi những bài khác cùng chủ đề.
Điều 56 khoản 6 Thông tư 89/2026/TT-BTC viết:
Trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân nộp thừa cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, cơ quan thuế căn cứ vào thông tin trên hồ sơ khai thuế để thực hiện thủ tục hoàn nộp thừa cho người nộp thuế theo quy định. Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ hoàn nộp thừa đến cơ quan thuế.
Hai vế, và vế sau mới là vế đổi việc bạn phải làm.
Cơ quan thuế lấy căn cứ từ hồ sơ khai thuế của bạn. Nghĩa là số tiền bạn được nhận lại được tính ra từ tờ khai, chứ không từ một lá đơn xin. Khai thiếu doanh thu thì con số nộp thừa tính ra sai theo hướng bất lợi cho bạn; không khai gì cả thì không có căn cứ nào để cơ quan thuế tính.
⇒ Việc phải làm không phải đi xin, mà là khai cho đúng và đủ. Và nghĩa vụ khai đó vẫn nguyên vẹn kể cả khi sàn đã khấu trừ nộp thay hết: Điều 13 Nghị định 68/2026, bản đang chạy sau khi Nghị định 141/2026 sửa, buộc hộ kinh doanh tự kê khai đầy đủ doanh thu và không trừ đi phần sàn đã nộp. Chi tiết ở bài sàn đã khấu trừ nộp thay rồi, còn phải kê khai gì.
Lúc nào mới cần tới mẫu 01/ĐNXLNT
Mẫu đơn vẫn tồn tại, chỉ là nó không phải cửa mặc định của tình huống trên. Thông tư 89/2026 có nhiều phụ lục, và Phụ lục I là mẫu khai thuế, Phụ lục III là mẫu hoàn thuế và xử lý nộp thừa.
Mẫu số 01/ĐNXLNT ở Phụ lục III là Văn bản đề nghị xử lý số tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa. Nó dùng cho:
· Bù trừ theo đề nghị của bạn, khi bạn muốn tự chọn khoản nợ hoặc khoản phải nộp để trừ vào, thay vì để hệ thống tự chạy. · Hoàn nộp thừa các loại thuế và khoản thu khác, gồm cả hoàn nộp nhầm. Đây là khoản quét chung ở Điều 56 khoản 7, nằm ngoài hai sắc thuế mà khoản 6 đã lo.
Có một trường hợp dùng mẫu khác: khoản đã nộp vẫn còn trong thời gian tra soát chứng từ nộp thuế theo Điều 37 của cùng thông tư thì dùng mẫu 01/TS, quá thời gian đó mới quay về 01/ĐNXLNT. Sau khi bù trừ xong, cơ quan thuế báo kết quả bằng mẫu 01/TB-XLBT trong 05 ngày làm việc kể từ ngày thông báo tiếp nhận văn bản đề nghị.
Nếu phải nộp, nộp ở đâu: Điều 55 khoản 4 cùng thông tư viết rằng hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chỉ bán trên nền tảng đã bị chủ quản nền tảng khấu trừ nộp thay thì cơ quan tiếp nhận là cơ quan thuế quản lý nơi hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đăng ký thuế; cá nhân kinh doanh không đăng ký kinh doanh thì nộp ở cơ quan thuế nơi cư trú. Điều 12 khoản 5 Nghị định 68/2026 gọi nơi đó là nơi chủ hộ kinh doanh cư trú. Với phần lớn hộ thì hai cách gọi trỏ về cùng một chi cục, nhưng nếu bạn đăng ký thuế một nơi mà cư trú một nơi khác thì cầm theo cả hai căn cứ.
Chứng từ khấu trừ của Shopee và TikTok Shop, và mã số thuế phải đúng
Cơ quan thuế tính theo tờ khai, nhưng bạn vẫn cần chứng minh được số sàn đã nộp thay là bao nhiêu, để biết mình đang chờ lại bao nhiêu và để đối chiếu khi con số không khớp.
Chứng từ khấu trừ thuế điện tử do sàn cấp là bằng chứng sàn đã nộp thay bao nhiêu, cho kỳ nào, mang mã số thuế nào.
Mã số thuế hoặc số định danh khai trên sàn phải đúng. Mã sai thì không ai báo cho bạn: tiền vẫn vào ngân sách, nhưng gắn vào một người khác, và bạn chỉ biết khi ngồi đối chiếu. Kiểm mã trên sàn trước khi kiểm bất cứ thứ gì khác.
Mười năm, đếm từ ngày sàn nộp
Khoản 4 Điều 15 Luật Quản lý thuế nêu hai trường hợp không hoàn trả số nộp thừa: người nộp thuế từ chối nhận lại, và số nộp thừa đã quá 10 năm kể từ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước mà trong suốt thời gian đó không bù trừ, không đề nghị hoàn.
Mười năm đếm từ ngày nộp tiền vào ngân sách, tức từng lần sàn nộp thay, không phải từ ngày bạn phát hiện ra. Tiền của năm 2026 có hạn riêng, tiền của năm 2027 có hạn riêng.
⚠️ Đừng lẫn mốc này với mốc 05 năm của việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế, vốn vừa được Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 rút xuống từ 10 năm. Khai bổ sung đóng cửa ở năm thứ năm. Đòi tiền nộp thừa còn tới năm thứ mười. Mà vì chuyện hoàn của bạn chạy trên tờ khai, cái đóng cửa sớm mới là cái đáng lo.
Việc thật sự tốn thời gian
Không phải lá đơn, vì phần lớn trường hợp không có lá đơn nào. Thứ ngốn thời gian là dựng lại con số đặt vào tờ khai: tổng doanh thu gộp cả năm của mọi kênh, tổng thuế từng sàn đã trừ theo từng kỳ, và phần chênh giữa hai con số đó với nghĩa vụ thật.
Muốn ước lượng nhanh số đang nằm chờ thì lấy doanh thu hàng hoá cả năm nhân 1,5%. Với 600 triệu là 9 triệu đồng. Con số đó chỉ quay về nếu tờ khai của bạn dựng đúng.
Còn nếu bạn nghi sàn trừ sai nhóm ngành chứ không phải trừ thừa vì dưới ngưỡng, đó là khoản 3 của Điều 12, và chỗ bắt đầu là bảng tỷ lệ sàn trừ theo từng nhóm.