Lấy hàng ở chợ Ninh Hiệp, chợ Đồng Xuân, hoặc order sỉ từ xưởng bên Trung Quốc: người bán không đưa hoá đơn, chỉ có tin nhắn chốt đơn và biên lai chuyển khoản. Hộ kinh doanh bán online không có hoá đơn đầu vào có sao không?
Đây là hai rủi ro khác nhau, và rủi ro nặng hơn không nằm ở chỗ hầu hết mọi người nghĩ tới.
Về số thuế phải nộp: tuỳ cách bạn đang nộp. Nộp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu thì không đổi số thuế, vì cách này không trừ chi phí của ai. Nộp theo thu nhập tính thuế thì mất trắng phần chi phí của lô hàng đó, đóng thuế gần như trên toàn bộ tiền bán ra.
Về rủi ro bị phạt: không phụ thuộc cách nộp thuế, và đây mới là chỗ đáng sợ hơn. Hàng trong kho không chứng minh được nguồn gốc mà bị quản lý thị trường kiểm tra thì bị phạt tiền theo giá trị lô hàng, bất kể bạn đang nộp thuế theo tỷ lệ hay theo thu nhập. Đọc xong phần thuế rồi dừng lại là bỏ sót đúng phần này.
Hộ kinh doanh bán online không có hoá đơn đầu vào có sao không: phần thuế, tuỳ cách nộp
Nộp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu: không hoá đơn không đổi số thuế. Cách này tính thuế thẳng trên doanh thu, không có khái niệm trừ chi phí. Hàng lấy về có hoá đơn hay không, mua giá nào, đều không vào công thức tính thuế. Đây là cách phần lớn hộ bán online dưới 3 tỷ đang dùng.
Nộp theo thu nhập tính thuế: không hoá đơn là mất quyền trừ chi phí của đúng lô đó. Nhóm này gồm hộ doanh thu trên 3 tỷ đồng một năm (bắt buộc) và hộ doanh thu từ trên ngưỡng miễn tới 3 tỷ (tự chọn). Khoản 1 Điều 6 Nghị định 68/2026/NĐ-CP, điều không nằm trong danh sách bị Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa, mở đầu bằng điều kiện: khoản chi được trừ phải là "chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về hoá đơn, chứng từ". Điểm a cùng khoản liệt "chi phí nguyên liệu, vật liệu, ... hàng hoá sử dụng vào sản xuất, kinh doanh" vào nhóm được trừ, nhưng vẫn phải qua điều kiện đủ hoá đơn ở trên trước. Điểm b khoản 2 nói thẳng: "Các khoản chi không có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật" thuộc nhóm không được trừ.
Lô hàng 50 triệu lấy ở chợ không hoá đơn thì với nhóm nộp theo thu nhập, 50 triệu đó không trừ được đồng nào. Bán hết lô, gần như toàn bộ tiền bán ra thành thu nhập tính thuế, thay vì chỉ phần lãi thật.
Ngưỡng phân hai nhóm nằm ở ngưỡng 1 tỷ tính trên doanh thu sàn ghi nhận hay tiền về tài khoản, và bộ sổ đi kèm từng cách nộp thuế nằm ở bỏ thuế khoán rồi hộ kinh doanh phải giữ sổ sách gì.
Không có bảng kê nào cứu được hàng mua ở chợ, dù người bán là ai
Doanh nghiệp mua nông sản trực tiếp từ người trồng, mua phế liệu từ người thu nhặt, có một cửa: lập bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ thay cho hoá đơn, theo điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP (nghị định này đã được Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa, nhưng ở Điều 4, không đụng Điều 9). Cửa này rộng hơn nhiều người tưởng: ngoài nông, lâm, thuỷ sản và phế liệu, nó còn mở cho "mua hàng hoá, dịch vụ của cá nhân, hộ kinh doanh ... có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng": tức có thể phủ cả một tiểu thương nhỏ ở chợ, nếu người đó có doanh thu dưới 01 tỷ.
Cửa đó không cứu được hộ kinh doanh, vì lý do khác hẳn chuyện người bán là ai: toàn bộ Điều 9 chỉ viết cho doanh nghiệp tính Thuế TNDN. Khoản 1 mở đầu bằng đúng chữ "doanh nghiệp được trừ các khoản chi...". Không có dòng nào trong Nghị định 68/2026 nói tới cơ chế tương đương cho hộ kinh doanh tính Thuế TNCN, dù nghị định này đã được Nghị định 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng miễn thuế lên 01 tỷ.
⇒ Bảng kê là công cụ của doanh nghiệp. Hộ kinh doanh mua hàng chợ không hoá đơn thì không có đường vòng nào để chứng minh chi phí đó, dù người bán ở chợ có đủ điều kiện lập bảng kê cho phía bên mua là một công ty hay không.
Rủi ro nặng hơn không nằm ở cơ quan thuế: quản lý thị trường tính riêng theo lô hàng
Nghị định 98/2020/NĐ-CP, đã được Nghị định 17/2022/NĐ-CP và Nghị định 24/2025/NĐ-CP sửa, Điều 17 xử phạt hành vi "kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc, xuất xứ". Khoản 13 Điều 3 định nghĩa đây là hàng đang lưu thông trên thị trường mà không có căn cứ xác định nơi sản xuất hay xuất xứ, và liệt kê thẳng các căn cứ được chấp nhận: nhãn hàng hoá, bao bì, tài liệu kèm theo, chứng từ chứng nhận xuất xứ, hợp đồng, hoá đơn mua bán, tờ khai hải quan. Không hoá đơn, không tài liệu nào khác thay thế được thì hàng rơi thẳng vào định nghĩa này.
Mức phạt tính theo giá trị lô hàng bị phát hiện, không tính theo doanh thu cả năm hay số thuế đã nộp thiếu, và chia làm mười một mức:
| Giá trị hàng vi phạm | Mức phạt |
|---|---|
| Dưới 1 triệu đồng | 300.000-500.000 đồng |
| Từ 1 đến dưới 3 triệu đồng | 500.000-1.000.000 đồng |
| Từ 3 đến dưới 5 triệu đồng | 1-3 triệu đồng |
| Từ 5 đến dưới 10 triệu đồng | 3-5 triệu đồng |
| Từ 10 đến dưới 20 triệu đồng | 5-7 triệu đồng |
| Từ 20 đến dưới 30 triệu đồng | 7-10 triệu đồng |
| Từ 30 đến dưới 40 triệu đồng | 10-15 triệu đồng |
| Từ 40 đến dưới 50 triệu đồng | 15-20 triệu đồng |
| Từ 50 đến dưới 70 triệu đồng | 20-30 triệu đồng |
| Từ 70 đến dưới 100 triệu đồng | 30-40 triệu đồng |
| Từ 100 triệu đồng trở lên | 40-50 triệu đồng |
Mức này áp cho cá nhân; khoản 4 Điều 4 Nghị định 98/2020 buộc tổ chức vi phạm chịu gấp hai lần mức cho cá nhân. Khoản 12 Điều 17 phạt gấp đôi thêm một lần nữa cho người sản xuất, nhập khẩu, hoặc khi hàng thuộc nhóm nhạy cảm như thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc, hoá chất.
⚠️ Đây là quản lý thị trường kiểm tại cửa hàng, kho, hoặc lúc hàng đang vận chuyển. Hộ nộp theo tỷ lệ không đổi số thuế phải nộp, nhưng hàng trong kho không chứng minh được nguồn gốc thì vẫn bị phạt khoản này.
Hàng nhập từ Trung Quốc không qua hải quan: một tội danh khác hẳn, khung phạt khác hẳn
Mua ở chợ trong nước và mua hàng nhập lậu là hai rủi ro khác nhau, đừng gộp chung, và đừng đem bảng phạt ở trên áp cho hàng nhập lậu: hai điều dùng hai bảng khác nhau.
Điều 15 Nghị định 98/2020 xử phạt riêng hành vi "kinh doanh hàng hoá nhập lậu". Khoản 6 Điều 3 liệt năm dạng hàng nhập lậu; hai dạng khớp đúng câu hỏi bài này là điểm c, hàng nhập khẩu không đi qua cửa khẩu quy định hoặc không làm đủ thủ tục hải quan, và điểm d, hàng nhập khẩu lưu thông trên thị trường không có hoá đơn, chứng từ kèm theo hoặc hoá đơn không hợp pháp. Ba dạng còn lại là hàng cấm nhập khẩu, hàng không giấy phép, và hàng phải dán tem nhập khẩu mà không dán. Khung phạt của Điều 15 tính theo cùng nguyên tắc giá trị lô hàng như Điều 17, nhưng là một bảng số khác, không dùng chung mức. Khoản 2 phạt gấp đôi khi người vi phạm trực tiếp nhập lậu, khi hàng thuộc danh mục cấm hoặc tạm ngừng nhập khẩu, hoặc khi hàng thuộc nhóm nhạy cảm. Khoản 3 áp cùng mức phạt cho cả hành vi cố ý vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng nhập lậu, không chỉ người trực tiếp mang hàng qua biên giới.
Không có đường hợp pháp nào để bán lại hàng "xách tay" không qua khai báo hải quan. Định mức miễn thuế của cư dân biên giới chỉ áp cho đúng người dân sống ở khu vực biên giới, mua trong danh mục Bộ Công Thương quy định, không áp cho việc thuê người mang hộ rồi bán online ở nơi khác. Ngưỡng miễn thuế cho hàng nhập khẩu giá trị nhỏ gửi qua chuyển phát nhanh cũng không còn: Quyết định 01/2025/QĐ-TTg bãi bỏ toàn bộ Quyết định 78/2010/QĐ-TTg, hiệu lực từ 18/02/2025. Từ mốc đó, mọi lô hàng nhập khẩu qua chuyển phát nhanh đều phải khai và nộp thuế, không còn ngưỡng miễn cho lô dưới 1 triệu đồng.
Quá một mức giá trị nhất định, hàng nhập lậu không còn dừng ở xử phạt hành chính. Điều 188 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa bởi Luật số 12/2017/QH14, đặt ngưỡng 100 triệu đồng: hàng hoá buôn bán qua biên giới trái pháp luật trị giá từ 100 triệu trở lên, hoặc dưới 100 triệu mà người đó đã bị xử phạt hành chính về đúng hành vi này và chưa xoá án tích, thì rơi vào tội buôn lậu. Khung nhẹ nhất phạt tiền 50-300 triệu hoặc tù 6 tháng-3 năm; khung nặng nhất, hàng từ 1 tỷ trở lên, tù 12-20 năm.
⛔ Con số 100 triệu này tính trên giá trị lô hàng, không phải doanh thu cả năm của shop. Một lần nhập hàng lớn để gom đơn cho cả tháng cũng đủ chạm ngưỡng.
Việc làm ngay nếu kho đang có hàng không hoá đơn
- Kiểm cách bạn đang nộp thuế. Nộp theo tỷ lệ thì không hoá đơn không đổi số thuế phải nộp, nhưng vẫn còn rủi ro ở phần quản lý thị trường. Nộp theo thu nhập thì tính lại phần chi phí đang mất, vì đó là tiền thật đang trả thêm thuế oan. Chưa rõ mình thuộc nhóm nào thì xem lại tờ khai gần nhất: có dòng chi phí hay chỉ có dòng doanh thu nhân tỷ lệ.
- Phân loại hàng trong kho theo nguồn gốc, không theo mã sản phẩm. Hàng chợ trong nước không hoá đơn thì đứng trước bảng phạt của Điều 17. Hàng nhập không qua hải quan thì đứng trước bảng phạt riêng của Điều 15, và trước Điều 188 nếu giá trị lớn.
- Ước giá trị lô hàng đang có trong kho theo giá vốn, rồi đối chiếu với bảng phạt ở trên để biết khung mình đang đứng ở đâu nếu bị kiểm tra hôm nay.
- Đổi nguồn hàng dần sang nơi xuất được hoá đơn, ngay cả khi bạn đang nộp thuế theo tỷ lệ. Đây không phải chuyện tiết kiệm thuế, mà là thứ duy nhất chứng minh được nguồn gốc khi bị kiểm tra.
Không chắc lô hàng trong kho rơi vào nhóm nào trong ba rủi ro trên: gửi tôi danh sách nguồn hàng đang lấy, tôi soi giúp từng nguồn.