Doanh thu năm nay của hộ khoảng 1,8 tỷ. Ai đó mách bạn: chuyển sang tính thuế theo thu nhập tính thuế, tức doanh thu trừ chi phí, sẽ tiết kiệm được vì bạn có khá nhiều hoá đơn mua hàng. Nghe hợp lý, nhưng không ai đưa ra một con số cụ thể để so sánh.
Hộ kinh doanh nên tính thuế theo tỷ lệ % hay thu nhập tính thuế? Xem một con số: chi phí có đủ chứng từ hợp lệ chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu. Dưới một ngưỡng khá cao tuỳ ngành, đổi cách tính chỉ tốn công mà không tiết kiệm được đồng nào.
Hộ kinh doanh nên tính thuế theo tỷ lệ % hay thu nhập tính thuế: chỉ hộ từ 1 đến 3 tỷ mới phải chọn
Không phải hộ nào cũng đứng trước lựa chọn này. Khoản 1 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 đặt ngưỡng miễn thuế GTGT và TNCN, ban đầu 500 triệu đồng một năm, nay là 01 tỷ đồng sau khi Nghị định 68/2026/NĐ-CP được Nghị định 141/2026/NĐ-CP nâng lên. Khoản 3 Điều 7 cùng luật chia tiếp phần doanh thu trên ngưỡng đó thành hai:
· Doanh thu năm trên 1 tỷ đến 3 tỷ đồng: được lựa chọn, tỷ lệ % trên doanh thu hoặc thu nhập tính thuế nhân thuế suất.
· Doanh thu năm trên 3 tỷ đồng: không còn lựa chọn, tính theo thu nhập tính thuế ở khoản 2.
Bài này nói cho đúng nhóm giữa, hộ doanh thu 1 đến 3 tỷ đang phải tự quyết định.
Thuế GTGT không đổi dù bạn chọn cách nào
Khoản 3 Điều 7 chỉ chi phối cách tính thuế thu nhập cá nhân. Nhiều người tưởng đổi cách tính cũng đổi luôn thuế GTGT: sai. Thuế GTGT đi theo đường riêng, dẫn sang Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, và luôn tính theo tỷ lệ % trên toàn bộ doanh thu, bất kể bạn chọn tỷ lệ % hay thu nhập tính thuế cho phần TNCN. Đổi cách tính không đụng được vào phần thuế GTGT phải nộp.
Phần thay đổi thật sự chỉ nằm ở thuế TNCN. Tỷ lệ % lấy phần doanh thu vượt trên 1 tỷ đồng nhân thẳng với tỷ lệ % theo nhóm ngành nghề, không đụng chi phí. Thu nhập tính thuế thì trừ chi phí được trừ theo Điều 6 Nghị định 68/2026 trước, rồi mới nhân với thuế suất theo bậc doanh thu năm: 15% cho doanh thu đến 3 tỷ.
Ngưỡng chi phí phải vượt bao nhiêu phần trăm doanh thu thì đổi mới lợi
So hai công thức trên rồi giải ra, mỗi nhóm ngành nghề có một ngưỡng chi phí riêng. Bảng dưới đây tính gần đúng, dùng để định hướng nhanh; phần "Công thức tính đúng ngưỡng của hộ bạn" ngay sau đó mới là con số nên dùng để quyết định:
| Nhóm ngành nghề | Thuế GTGT | Thuế TNCN, cá nhân cư trú | Ngưỡng chi phí cần vượt |
|---|---|---|---|
| Phân phối, cung cấp hàng hoá | 1% | 0,5% | khoảng 97% doanh thu |
| Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu | 5% | 2% | khoảng 87% doanh thu |
| Cho thuê tài sản; đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp | 5% | 5% | khoảng 67% doanh thu |
| Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu | 3% | 1,5% | khoảng 90% doanh thu |
| Nội dung số: giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số | 5% | 5% | khoảng 67% doanh thu |
| Hoạt động kinh doanh khác | 2% | 1% | khoảng 93% doanh thu |
Tỷ lệ % TNCN lấy từ phụ lục Nghị định 253/2026/NĐ-CP, dẫn theo khoản 3 Điều 7 Luật 109/2025/QH15, cùng bảng đã dùng ở bài ngưỡng 1 tỷ tính trên doanh thu gộp hay tiền về tài khoản. Ngưỡng chi phí ở cột phải do tôi tự tính, cho hai công thức TNCN bằng nhau; không phải số in sẵn trong văn bản nào, và càng chính xác khi doanh thu càng lớn hơn nhiều so với mốc 1 tỷ. Doanh thu gần mốc 1 tỷ hơn (như 1,5 hay 1,8 tỷ) thì ngưỡng thật cao hơn số trong bảng, đôi khi cao hơn khá nhiều; đọc trực tiếp con số trong bảng cho hộ doanh thu chưa tới 2 tỷ dễ tưởng ngưỡng thấp hơn thực tế. Hộ bán hàng hoá đơn thuần qua sàn TMĐT thường rơi vào nhóm phân phối, cung cấp hàng hoá.
Công thức tính đúng ngưỡng của hộ bạn, không dùng số gần đúng
Gọi DT là doanh thu năm của hộ (đơn vị triệu đồng), r là tỷ lệ % TNCN theo ngành ở bảng trên. Chi phí phải vượt qua mức:
CP* = DT − (DT − 1.000) × r ÷ 15%
thì đổi sang thu nhập tính thuế mới bắt đầu có lợi. Ví dụ hộ dịch vụ (r = 2%) doanh thu 2 tỷ: phần vượt 1 tỷ đồng nhân 2% ra 20 triệu đồng tiền thuế TNCN theo cách tỷ lệ %. Để thu nhập tính thuế ra đúng 20 triệu đó, CP* = 2.000 − 1.000 × 2% ÷ 15% = 2.000 − 133,3 = 1.866,7 triệu đồng, tức khoảng 93,3% doanh thu, cao hơn hẳn con số 87% gần đúng ở bảng, đúng vì doanh thu 2 tỷ chỉ gấp đôi mốc 1 tỷ, phần điều chỉnh theo mốc đó vẫn còn đáng kể.
Hộ dịch vụ này cần chi phí có đủ hoá đơn, chứng từ trên 1.866,7 triệu đồng thì đổi cách tính mới có lợi; dưới mức đó, đổi cách tính làm hộ nộp NHIỀU thuế TNCN hơn, không phải ít hơn. Thay đúng doanh thu và tỷ lệ ngành của hộ bạn vào công thức trên trước khi quyết định, đừng dừng ở số trong bảng.
Có đủ chứng từ để chạm ngưỡng đó không mới là câu hỏi thật
Điều 6 Nghị định 68/2026 đòi khoản chi phải có đủ hoá đơn, chứng từ, và khoản mua từ 05 triệu đồng trở lên trong ngày phải thanh toán không dùng tiền mặt, xem chi tiền mặt bao nhiêu thì không được tính vào chi phí. Hộ mua hàng, nguyên liệu của những hộ nhỏ khác không xuất hoá đơn thì vẫn có cửa tính vào chi phí, nhưng phải đủ điều kiện riêng, xem mua bao bì từ hộ kinh doanh nhỏ không có hoá đơn có tính chi phí không.
Nhiều hộ có chi phí thật sự cao nhưng phần lớn trả tiền mặt cho những người bán không giữ sổ sách: mua nguyên liệu ở chợ, thuê người làm thời vụ không hợp đồng. Chi phí đó có thật, nhưng không đứng được trong hồ sơ thuế nếu thiếu chứng từ, nên tỷ lệ chi phí "hợp lệ" trên giấy luôn thấp hơn tỷ lệ chi phí thật. Phần lớn hộ ở ngưỡng doanh thu 1 đến 3 tỷ nên ở lại tỷ lệ %: chi phí thật của họ hiếm khi gom đủ chứng từ để vượt ngưỡng, chứ tỷ lệ % không hề rẻ hơn về bản chất.
Chọn rồi phải giữ hai năm liên tục
Điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định 68/2026 khoá hộ đã chuyển sang thu nhập tính thuế vào đúng phương pháp đó trong hai năm liên tục kể từ năm đầu áp dụng, không đổi lại giữa chừng dù năm sau kinh doanh khác hẳn năm trước. Tính sai ngưỡng chi phí một lần là gánh cách tính bất lợi suốt hai năm.
Đưa lương chủ hộ vào chi phí để né thuế không phải lý do đúng để chuyển cách tính: khoản đó bị loại dù chọn phương pháp nào, xem hộ kinh doanh tự trả lương cho mình có được tính vào chi phí không.
Việc cần làm trước khi chốt
Cộng lại chi phí năm gần nhất đang có đủ hoá đơn và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt hợp lệ, chia cho doanh thu cùng kỳ. So con số đó với ngưỡng ở bảng theo đúng nhóm ngành nghề của hộ.
Thấp hơn ngưỡng nhiều thì ở lại tỷ lệ %, không cần tính thêm. Gần ngưỡng thì thay đúng doanh thu và tỷ lệ ngành của hộ vào công thức CP* ở trên, đừng dùng số gần đúng ở bảng. Nhớ khoá hai năm trước khi đăng ký, vì một năm tính sai không đủ để đảo ngược quyết định.
Sổ chi phí năm gần nhất và doanh thu theo tháng, gửi sang đây, tôi tính hộ đúng ngưỡng của hộ kinh doanh bạn trước khi bạn đăng ký.